I. TÌNH HÌNH
Trong nền kinh tế sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa có tầm quan trọng đặc biệt đối với phát huy các nguồn tài nguyên văn hoá, giải phóng sức sáng tạo của con người, thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Nhiều nhiệm kỳ qua, dựa vào tiềm năng, lợi thế sở hữu di sản văn hoá đặc sắc và cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, Đảng bộ tỉnh xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, chú trọng phát huy tài nguyên di sản phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Ninh Bình ngày càng định hình rõ vai trò là một trung tâm tổ chức sự kiện của vùng đồng bằng sông Hồng, có những lễ hội, sự kiện nghệ thuật đặc sắc; thu hút sản xuất một số bộ phim nổi tiếng; có tiến bộ trong phát triển kinh tế thể thao; đa dạng hoá sản phẩm thị trường quà lưu niệm du lịch; khảo cổ, sưu tầm, bảo quản nhiều di vật, cổ vật, bảo vật có giá trị đặc biệt; trùng tu, phục hồi số lượng lớn di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh gắn với xây dựng hồ sơ công nhận xếp hạng; hồi sinh một số di sản làng nghề, di sản nông nghiệp đặc hữu; phát triển nhanh nghệ thuật nhiếp ảnh, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân gian, nghệ thuật truyền thống (Chèo, Xẩm); định hướng xây dựng, nâng cấp, hiện đại hoá các thiết chế văn hóa mang tính biểu tượng như truyền hình, bảo tàng, thư viện, nhà văn hóa; có những thành công bước đầu trong áp dụng mô hình “sở hữu công, quản trị - vận hành - khai thác tư” tại Quần thể danh thắng Tràng An.
Tuy vậy, du lịch văn hóa chậm chuyển đổi sang phương thức sản xuất công nghiệp, thiếu các sản phẩm đổi mới sáng tạo mang lại giá trị gia tăng cao; chưa phân định rõ sản phẩm công nghiệp văn hóa mang tính thương mại với dịch vụ văn hóa mang tính công ích; chính sách văn hóa vẫn nằm trong giới hạn lĩnh vực đời sống tinh thần, chưa rõ định hướng phát triển kinh tế di sản, kinh tế thể thao, kinh tế truyền thông, kinh tế bảo tàng; còn lúng túng khi xử lý mối quan hệ giữa đáp ứng nhu cầu giải trí và giáo dục tư tưởng, nghệ thuật, đạo đức, thẩm mỹ; thiếu cơ chế, nguồn lực đầu tư chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành sản phẩm công nghiệp văn hóa; chưa thu hút được các nhà đầu tư chiến lược, thiếu “sân chơi” cho giới công nghiệp văn hoá, giải trí nổi tiếng hiện diện thường xuyên tại Ninh Bình; còn nhiều bất cập, hạn chế, vướng mắc đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, thể thao.
Hạn chế nêu trên có nhiều nguyên nhân, chủ yếu là các nguyên nhân chủ quan: Chưa nhận thức rõ phát triển công nghiệp văn hoá với vai trò, tính chất một ngành kinh tế; chậm quy hoạch phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa chủ lực; chưa tạo được môi trường hấp dẫn thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp văn hóa gắn với chiến lược xây dựng thương hiệu địa phương; thiếu cơ chế, chính sách thông thoáng cho phép giải phóng sức sáng tạo văn hóa, tăng cường năng lực thương mại hóa các ý tưởng đổi mới sáng tạo, thúc đẩy tự do lưu thông, phân phối, tiêu dùng các sản phẩm công nghiệp văn hóa, giải trí ở Ninh Bình gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả.
II. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU
1. Quan điểm
1.1. Phát triển công nghiệp văn hóa ở Ninh Bình là phát triển một ngành kinh tế dựa vào tài nguyên di sản, nguồn lực văn hoá, động lực sáng tạo, mang tính giải trí, tính thương mại và phương thức sản xuất công nghiệp. Công nghiệp văn hóa có vai trò quan trọng thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, giải quyết việc làm, gia tăng thu nhập, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân, phát huy sức mạnh mềm, nâng tầm giá trị thương hiệu địa phương.
1.2. Phát triển công nghiệp văn hóa ở Ninh Bình trên cơ sở bảo tồn, phát huy giá trị tài nguyên văn hoá, nguồn lực nhân văn, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp. Quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp văn hóa phải xác định rõ những sản phẩm chủ lực, các hướng ưu tiên; bảo đảm đồng bộ với phát triển du lịch, nông nghiệp sinh thái đa giá trị, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; kết nối, hợp tác chặt chẽ với các trung tâm công nghiệp văn hóa, giải trí lớn trong nước và quốc tế.
1.3. Quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp văn hóa có trọng tâm, trọng điểm, xác định bước đi phù hợp. Lấy phát triển nhóm ngành công nghiệp văn hoá - giải trí làm đột phá; nhóm ngành kinh tế di sản làm trụ cột; nhóm ngành nghệ thuật sáng tạo làm giá trị cốt lõi; nhóm ngành công nghiệp văn hóa số làm động lực.
1.4. Phát huy nguồn lực, sức mạnh tổng hợp cho phát triển công nghiệp văn hóa, lấy nguồn lực Nhà nước dẫn dắt, nguồn lực xã hội làm đột phá, thúc đẩy kết nối giữa các loại nguồn lực, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Đây là nhiệm vụ trọng yếu của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp và người dân, trong đó doanh nghiệp có vai trò nòng cốt, cơ cấu lại các đơn vị sự nghiệp công lập (văn hóa, nghệ thuật, thể thao) và ngành nghề truyền thống có ý nghĩa quan trọng, phát huy sức sáng tạo mạnh mẽ của nhân dân đóng vai trò quyết định.
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu chung
Xây dựng tỉnh Ninh Bình trở thành một trung tâm chuyên ngành về công nghiệp văn hóa của vùng, quốc gia và hội nhập quốc tế, cùng với du lịch trở thành cụm ngành kinh tế mũi nhọn; có đóng góp ngày càng quan trọng vào giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập người dân, tăng thu ngân sách, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát huy hiệu quả tài nguyên di sản, thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; giáo dục truyền thống lịch sử - văn hóa, quảng bá, lan tỏa các giá trị đặc sắc của con người, vùng đất Cố đô Hoa Lư, nâng cao giá trị thương hiệu địa phương; hội nhập sâu vào chuỗi giá trị các ngành công nghiệp văn hóa, giải trí trên thế giới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xây dựng Ninh Bình hội đủ tính chất một đô thị di sản - trung tâm chuyên ngành về du lịch, công nghiệp văn hóa, giải trí của vùng, quốc gia và hội nhập quốc tế. Công nghiệp văn hóa cùng với du lịch trở thành cụm ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương.
- Thúc đẩy các cơ chế, chính sách vượt trội để xây dựng Ninh Bình trở thành một trung tâm chuyên ngành về du lịch, công nghiệp văn hóa, giải trí gắn với khởi tạo các ngành kinh tế sáng tạo, có sức cạnh tranh cao, thương hiệu mạnh, tạo nền tảng kinh tế xanh cho xây dựng đô thị di sản, tham gia mạng lưới thành phố sáng tạo của UNESCO.
- Định hình đồng bộ 10 lĩnh vực công nghiệp văn hóa có lợi thế cạnh tranh của địa phương dựa trên thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ, bao gồm: (1) du lịch văn hoá; (2) công nghiệp biểu diễn - tổ chức sự kiện; (3) công nghiệp thể thao; (4) công nghiệp điện ảnh - công viên phim trường; (5) kinh tế di sản; (6) đồ thủ công mỹ nghệ - hàng lưu niệm du lịch - kinh tế làng nghề; (7) công nghiệp hình ảnh; (8) kinh tế bảo tàng, kinh tế truyền thông - quảng cáo; (9) thiết kế sáng tạo, mỹ thuật công nghiệp và đồ chơi; (10) công nghiệp văn hoá số.
- Tạo đột phá phát triển một số sản phẩm công nghiệp văn hóa chủ lực có tính lan tỏa nhanh, ảnh hưởng rộng, khẳng định thương hiệu địa phương, thúc đẩy tiêu dùng du lịch, mang lại giá trị gia tăng cao như: du lịch văn hóa, tổ chức sự kiện, công nghiệp điện ảnh, công nghiệp thể thao, kinh tế di sản, kinh tế làng nghề; đổi mới, sắp xếp, nâng cao hiệu quả hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập; làm mới các làng nghề truyền thống, quần cư di sản; phát triển công viên sáng tạo theo chủ đề/chuyên đề; hoàn thành xây dựng các thiết chế văn hóa, thể thao, truyền hình mang tính biểu tượng của đô thị di sản thiên niên kỷ; khởi tạo một số ngành công nghiệp hình ảnh, kinh tế bảo tàng, kinh tế truyền thông, thiết kế sáng tạo và công nghệ số.
2.3. Một số chỉ tiêu cụ thể
a) Đến năm 2030:
Phấn đấu đạt chỉ tiêu cơ bản của một số ngành công nghiệp văn hóa chủ lực:
- Các ngành công nghiệp văn hóa - giải trí đóng góp trên 10% GRDP.
- Xây dựng, củng cố cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn và triển khai đầu tư xây dựng một số công trình, hạng mục phỏng dựng, phục dựng Hoàng thành Hoa Lư ở những vị trí có điều kiện theo quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Quần thể Di tích quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
- Hoàn thành một số thiết chế văn hóa mang tính biểu tượng trong danh mục kế hoạch đầu tư công trung hạn và thu hút đầu tư ngoài khu vực Nhà nước giai đoạn 2026-2030; xây dựng và trình UNESCO hai hồ sơ di sản thế giới và khu vực; hoàn thành chuyển đổi số toàn diện đối với các di vật, di tích, di sản.
- Hoàn thành, phát hành ít nhất 5 bộ phim đặc sắc quay tại Ninh Bình; xác lập tính ổn định và duy trì thường niên các chương trình tổ chức sự kiện nổi bật, khác biệt, khẳng định thương hiệu địa phương (nghệ thuật biểu diễn, lễ hội truyền thống, giải đấu thể thao, hội thi sáng tác văn học, nghệ thuật, triển lãm điêu khắc và nhiếp ảnh, liên hoan điện ảnh, ca nhạc và truyền hình).
- Hoàn thành các thủ tục và hoàn thành cơ bản việc xây dựng 1 Học viện bóng đá tiêu chuẩn quốc tế. Phấn đấu xây dựng, hoàn thành và đưa vào khai thác một số trường đua thể thao; xây dựng bổ sung 2 sân golf; duy trì thành tích Câu lạc bộ bóng đá nam và Câu lạc bộ bóng chuyền nam, nữ Ninh Bình có thứ hạng cao ổn định của giải quốc gia.
- Hoàn thành việc cơ cấu lại các đơn vị sự nghiệp công lập về quản lý di tích - danh thắng, bảo tàng, thể thao, nhà hát, truyền hình... quản trị và hạch toán tài chính như doanh nghiệp, đồng thời khuyến khích liên kết, hợp tác công tư (PPP) theo quy định của pháp luật.
- Phấn đấu có ít nhất 10 doanh nghiệp có quy mô lớn, doanh thu cao, thương hiệu mạnh, tổ chức kinh doanh thông qua các hình thức công viên chuyên đề/chủ đề, kinh tế làng nghề, kinh tế bảo tàng, kinh tế thể thao, khu du lịch phức hợp đa năng, du lịch cộng đồng, không gian văn hóa sáng tạo, quần cư di sản... góp phần tăng thời gian lưu trú và chi tiêu của khách hàng; đồng thời tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy chuyển đổi sinh kế hộ gia đình trên địa bàn tỉnh, phấn đấu mỗi địa phương tối thiểu có từ 10-20% hộ gia đình sinh kế dựa vào du lịch nông nghiệp - nông thôn, du lịch làng nghề, du lịch sinh thái, du lịch di sản. Có chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư, thành lập và đưa vào hoạt động có hiệu quả ít nhất 2 doanh nghiệp công nghiệp văn hóa số, phấn đấu mỗi năm có từ 2 đến 3 dự án công nghiệp văn hóa số được thương mại hóa (du lịch số trải nghiệm đa giác quan, hướng dẫn viên số, trò chơi giải trí số, nhập vai số, sáng tạo nội dung số (video clip, hình ảnh số, âm thanh số, quà tặng du lịch số...), triển lãm số, tổ chức sự kiện cho nhân vật số...).
b) Đến năm 2035:
Phấn đấu đạt các chỉ tiêu khẳng định vai trò, vị thế đô thị chuyên ngành lớn của vùng và đất nước về công nghiệp văn hóa, giải trí, cùng với du lịch trở thành cụm ngành kinh tế mũi nhọn:
- Phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa, giải trí đóng góp trên 15% GRDP.
- Hoàn thành phỏng dựng, phục dựng Hoàng thành Hoa Lư theo quy hoạch bảo tồn và phục hồi Quần thể Di tích quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Hoàn thành đưa vào khai thác Học viện bóng đá tiêu chuẩn quốc tế; phấn đấu 02 hồ sơ xếp hạng di sản trình UNESCO được ghi danh. Hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng các thiết chế mang tính biểu tượng: truyền hình, bảo tàng, thư viện, nhà hát, cung triển lãm, trung tâm tổ chức sự kiện...
- Quản trị chuyên nghiệp thương hiệu địa phương; khẳng định vai trò, vị trí một trung tâm tổ chức sự kiện hàng đầu của vùng và đất nước; hình thành hệ sinh thái cho phát triển bền vững các ngành công nghiệp văn hóa dựa trên giá trị nghệ thuật (điện ảnh, điêu khắc, nhiếp ảnh, hội họa, ca nhạc, văn học, truyền thông và quảng cáo, thiết kế, công nghiệp văn hóa số...); định hình đồng bộ các yếu tố của thị trường kinh tế thể thao, kinh tế di sản, kinh tế hình ảnh, kinh tế số; có những sản phẩm nổi trội, thành tích cao, đủ sức tham gia các sự kiện quốc tế thường niên.
- Phấn đấu có khoảng 15 doanh nghiệp lớn, sức cạnh tranh cao, giá trị thương hiệu mạnh trên các lĩnh vực công nghiệp văn hóa, giải trí (nghệ thuật biểu diễn, thể thao, điện ảnh - phim trường, kinh tế di sản, kinh tế bảo tàng, công viên sáng tạo, làng nghề thủ công truyền thống, khu du lịch phức hợp đa năng, kinh tế truyền thông và quảng cáo, kinh tế hình ảnh, thiết kế sáng tạo và mỹ thuật công nghiệp, công nghiệp văn hóa số); phấn đấu mỗi năm có ít nhất 5 dự án công nghiệp văn hóa số được thương mại hóa, tạo động lực phát triển các hộ kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa vào sinh kế du lịch, công nghiệp văn hóa.
3. Định hướng đến năm 2050
Định hình vững chắc các ngành công nghiệp văn hoá, cùng với du lịch là cụm ngành kinh tế mũi nhọn, làm nền tảng kinh tế của đô thị di sản thiên niên kỷ, thành phố sáng tạo; bảo đảm cơ cấu đồng bộ, hiện đại, bền vững, có những sản phẩm nổi trội, tiêu biểu cho thương hiệu quốc gia; khẳng định Ninh Bình là một trung tâm chuyên ngành quan trọng về công nghiệp văn hoá của vùng và đất nước, có ảnh hưởng lớn, sức cạnh tranh cao, hội nhập sâu rộng trên thế giới.
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Thống nhất nhận thức về phát triển công nghiệp văn hóa cùng với du lịch trở thành cụm ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Tạo sự thống nhất cao trong Đảng bộ và đồng thuận xã hội đưa công nghiệp văn hóa cùng với du lịch trở thành cụm ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững thời kỳ mới.
Nhận thức đầy đủ về phát triển công nghiệp văn hóa dựa trên nguyên tắc thị trường; bám sát tính giải trí, tính sáng tạo, tính thương mại, phương thức sản xuất công nghiệp và thông qua hoạt động văn hóa - giải trí để chuyển tải các giá trị tư tưởng, đạo đức, nghệ thuật, thẩm mỹ; thúc đẩy cơ chế, chính sách vượt trội cho phép giải phóng sức sáng tạo, tự do lưu thông, phân phối, tiêu dùng, phát triển thị trường các sản phẩm công nghiệp văn hoá - giải trí; bảo đảm phát huy tối đa lợi thế cạnh tranh để thúc đẩy mô hình tăng trưởng xanh, tạo nền tảng kinh tế sáng tạo cho đô thị di sản thiên niên kỷ.
Đổi mới hình thức truyền thông, marketing địa phương, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên, người dân và doanh nghiệp, qua đó tổ chức thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển công nghiệp văn hóa.
2. Xây dựng cơ chế, chính sách vượt trội tạo động lực đưa du lịch, cùng với công nghiệp văn hoá trở thành cụm ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh
Hoàn thiện chính sách địa phương trong điều kiện phân cấp, phân quyền theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, nỗ lực xây dựng Ninh Bình trở thành một trung tâm chuyên ngành quan trọng về du lịch, công nghiệp văn hoá, giải trí của vùng, quốc gia và hội nhập quốc tế.
Thúc đẩy cơ chế, chính sách ưu đãi về thuế, đất đai cho phép giải phóng mọi năng lực sáng tạo, khai thông mọi nguồn lực, thương mại hoá nhanh chóng các ý tưởng đổi mới sáng tạo, thành tựu khoa học, công nghệ. Tạo chính sách thông thoáng cho sản xuất, phân phối, xuất - nhập khẩu, tiêu dùng các sản phẩm công nghiệp văn hoá, giải trí. Tập trung nguồn lực đầu tư có trọng tâm, trọng điểm cho phát triển hạ tầng công nghiệp văn hóa, mở rộng phạm vi đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trong phát triển văn hóa, nghệ thuật, thể thao; đề xuất nới lỏng các điều kiện cấp phép các ngành giải trí mới nổi, hoàn thiện thị trường đặt cược các môn thể thao. Hoàn thiện các chính sách về bảo vệ bản quyền, nhượng quyền thương hiệu, quyền sở hữu trí tuệ, ý tưởng đổi mới sáng tạo, bảo đảm hình thành đồng bộ các yếu tố của thị trường sản phẩm công nghiệp văn hóa, giải trí.
Có chính sách hỗ trợ các đoàn làm phim, nghệ thuật biểu diễn, marketing địa phương; hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, đào tạo nghệ nhân và nhân lực những ngành nghề mới nổi; kiến tạo thị trường cho những sản phẩm mới. Ưu tiên phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hoá, giải trí chủ lực, có sức cạnh tranh cao. Huy động nguồn lực đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa có tính biểu tượng cho đô thị di sản thiên niên kỷ, thành phố sáng tạo. Sớm ban hành cơ chế, chính sách đầu tư, vận hành, quản trị, khai thác trung tâm đổi mới sáng tạo.
3. Quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp văn hóa chủ lực dựa vào tiềm năng nổi trội, lợi thế cạnh tranh; lấy nhu cầu văn hóa - giải trí làm động lực; lấy sáng tạo văn hoá, nghệ thuật làm giá trị cốt lõi; lấy thương mại hoá ý tưởng đổi mới sáng tạo và ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ làm đột phá
Đẩy nhanh phát triển một số ngành công nghiệp văn hóa-giải trí như công nghiệp biểu diễn-tổ chức sự kiện, công nghiệp thể thao, công nghiệp điện ảnh-công viên phim trường. Mỗi phân ngành ưu tiên lựa chọn một số sản phẩm nổi trội, mang tính khác biệt để thu hút đầu tư phát triển vượt trước, hình thành “sân chơi” hấp dẫn cho những người nổi tiếng trong giới công nghiệp văn hóa - giải trí, sớm đưa Ninh Bình trở thành một trung tâm tổ chức sự kiện nghệ thuật, thể thao, điện ảnh của vùng và đất nước.
Tạo đột phá trong phát triển kinh tế di sản thông qua các hình thức công viên di sản, công viên sáng tạo, kinh tế bảo tàng gắn với thương mại hoá ý tưởng đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ để nâng tầm giá trị di sản, làm cho mỗi di sản trở thành nơi cung ứng các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tận hưởng đa giác quan, khám phá cái mới của khách hàng. Phát triển kinh tế di sản dựa trên nguyên tắc làm cho người dân “chung sống cùng di sản, bảo vệ di sản, hưởng lợi từ di sản”. Cơ cấu lại các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chức năng kép: vừa quản lý di sản, vừa phát triển kinh tế di sản, quản trị và hạch toán tài chính như doanh nghiệp.
Thúc đẩy phát triển các làng nghề thủ công mỹ nghệ trên cơ sở làm mới sản phẩm truyền thống theo tinh thần “mỹ thuật hoá mỹ nghệ”, đổi mới quy trình sản xuất và phân phối, sáng tạo thị trường mới trên ngành hàng cũ. Mở rộng mô hình làng du lịch cộng đồng. Làng nghề thủ công mỹ nghệ hướng vào các sản phẩm xanh, sáng tạo, vừa đáp ứng nhu cầu trải nghiệm thực tế của du khách, vừa cung ứng cho thị trường hàng lưu niệm du lịch những sản phẩm mang bản sắc địa phương. Làng nghề thủ công mỹ nghệ, làng du lịch cộng đồng là một không gian phức hợp đa chức năng dựa trên năng lực đổi mới sáng tạo, phát huy giá trị di sản làng nghề, di sản nông nghiệp đặc hữu, di sản quần cư làng Việt, bản Mường. Mỗi làng nghề, làng du lịch cộng đồng có nhiều sản phẩm đa dạng dựa trên một sản phẩm cốt lõi gắn với câu chuyện hấp dẫn; thiết kế không gian sáng tạo theo nguyên tắc “bảo tàng hoá di sản” để kích thích trí tưởng tượng, nhu cầu khám phá bản sắc cộng đồng địa phương; hướng vào nghệ thuật thị giác khơi gợi cảm hứng của du khách; ứng dụng công nghệ mới để nâng tầm giá trị nghệ thuật và gia tăng sức cuốn hút của sản phẩm.
Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp hình ảnh, kinh tế truyền thông - quảng cáo, thiết kế sáng tạo và mỹ thuật công nghiệp - những ngành có vai trò nền tảng làm nên giá trị nghệ thuật đối với mọi sản phẩm công nghiệp văn hóa, giải trí. Kiến tạo thị trường đủ sức hấp dẫn thu hút các doanh nghiệp công nghiệp văn hóa, giải trí, thời trang mở công ty hoặc văn phòng đại diện tại Ninh Bình. Định kỳ tổ chức lễ hội thời trang; liên hoan điện ảnh, ca nhạc và truyền hình; triển lãm, thi sáng tác hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh; mở hội chợ, expo (triển lãm toàn cầu)... để thúc đẩy thị trường các sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Có cơ chế đặc thù cho khởi nghiệp sáng tạo các ngành công nghiệp văn hóa số, nhất là ứng dụng trí tuệ nhân tạo phát triển các sản phẩm số như: du lịch số trải nghiệm đa giác quan; vật lý số cho các di tích, di vật, cổ vật, bảo vật; trò chơi số; sáng tạo nội dung số (video clip, quà tặng du lịch số, hình ảnh số, ngôn ngữ số, âm nhạc số); tổ chức triển lãm số; tổ chức sự kiện cho nhân vật số... Xác định đây là nhóm ngành cho giá trị gia tăng cao, có khả năng thương phẩm hóa trên các nền tảng số xuyên biên giới gắn với thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo.
4. Huy động nguồn lực đa dạng đầu tư cho phỏng dựng, phục dựng, phục hồi, bảo tồn di sản văn hoá, hiện đại hoá hạ tầng công nghiệp văn hoá - giải trí, phát huy sức mạnh văn hóa, con người vùng đất Cố đô Hoa Lư.
Đầu tư cho phỏng dựng, phục dựng, phục hồi, bảo tồn di sản phải được coi là đầu tư cho phát triển kinh tế di sản. Xây dựng hạ tầng công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí dựa vào nguồn lực Trung ương và địa phương, kết nối nguồn lực Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội, nguồn lực trong nước và quốc tế.
Xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026-2030 và 2031-2035 cần ưu tiên cho các hạng mục phỏng dựng, phục dựng, phục hồi, bảo tồn di sản Hoàng thành Hoa Lư theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, nhất là cung điện, lâu đài, phủ đệ, tường thành, các thiết chế tín ngưỡng, quần cư di sản, cảnh quan văn hoá (sông ngòi, ao hồ gắn với các cảng thị, cầu cống, kiến trúc công trình ven sông...); đầu tư nâng cấp các thiết chế văn hóa mang tính biểu tượng xứng tầm đô thị di sản thiên niên kỷ (bảo tàng, trung tâm triển lãm nghệ thuật, trung tâm nghệ thuật đương đại, truyền hình, thư viện, quảng trường, tượng đài...). Đẩy nhanh xây dựng hồ sơ trình UNESCO xem xét, ghi danh những di sản độc đáo. Thành lập Quỹ bảo tồn di sản Cố đô Hoa Lư làm cơ sở huy động nguồn lực xã hội đóng góp cho bảo tồn di sản. Đầu tư di dời và tái định cư đối với người dân vùng lõi Kinh thành Hoa Lư gắn với phỏng dựng, phục dựng di sản quân thành; đồng thời, tái hiện di sản thị thành, quần cư di sản theo nguyên tắc “mỗi di sản một quần cư” làm tiền đề cho phát triển du lịch dựa vào cộng đồng, thúc đẩy kinh tế ban đêm.
Thực hiện “đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư” nhằm thúc đẩy phát triển các công viên di sản, công viên sáng tạo, phim trường, hạ tầng kinh tế thể thao, làng nghề truyền thống, làng du lịch cộng đồng. Cơ quan Nhà nước lập quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch sản phẩm chủ lực; đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, hạ tầng giao thông, hạ tầng số, hạ tầng xanh, dịch vụ công cộng, xây dựng trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, bảo tồn, phục hồi di sản; hỗ trợ đào tạo nhân lực, xúc tiến đầu tư, marketing địa phương, bảo tồn nghệ thuật dân gian; hỗ trợ thiết kế sáng tạo cho các hạng mục bảo tồn di sản quần cư làng Việt, bản Mường, tổ nghề truyền thống... để dẫn dắt tư nhân đầu tư khai thác các hạng mục dịch vụ - thương mại, tạo động lực đầu tàu lôi kéo các hộ gia đình nằm trong vùng quy hoạch phát triển làng nghề truyền thống, làng du lịch cộng đồng chuyển đổi sinh kế.
Xây dựng các chương trình thu hút đầu tư ngoài ngân sách đối với những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, nhất là hệ thống khách sạn, trung tâm mua sắm, trung tâm tổ chức sự kiện, dịch vụ vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng cao cấp, lưu trú dài ngày; các thiết chế thể thao chuyên nghiệp như Học viện Bóng đá quốc tế, trường đua…
Có cơ chế huy động nguồn lực xã hội cho bảo tồn di sản, nhất là phỏng dựng, phục dựng, phục hồi các hạng mục công trình của Kinh thành Hoa Lư; sưu tầm, tập hợp các di sản văn hóa phi vật thể; mua các di vật, cổ vật, bảo vật bị thất lạc. Gắn kết chặt chẽ giữa giữ gìn giá trị truyền thống và đổi mới sáng tạo, giữa phát huy giá trị tri thức bản địa và ứng dụng tri thức khoa học, công nghệ hiện đại.
Chăm lo xây dựng văn hóa, lối sống văn minh, hiện đại trên nền tảng tinh hoa Cố đô Hoa Lư, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo. Gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, bồi dưỡng nhân lực địa phương với thu hút, trọng dụng nhân tài cả nước và quốc tế. Phải làm cho toàn thể người dân Ninh Bình thực sự là chủ thể phát triển công nghiệp văn hoá theo tinh thần “Tự hào về di sản - Đi lên từ di sản - Phồn vinh cùng di sản”.
5. Phát triển các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh gắn với thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo các ngành công nghiệp văn hóa, giải trí, xây dựng thương hiệu địa phương.
Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới mô hình kinh doanh, lấy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo làm động lực, hướng vào phát triển các sản phẩm cho giá trị gia tăng cao. Thu hút các tập đoàn, doanh nghiệp công nghiệp văn hóa, giải trí trong nước và quốc tế lập doanh nghiệp hoặc mở chi nhánh tại Ninh Bình.
Hỗ trợ các hộ gia đình trong các làng nghề thủ công truyền thống, làng du lịch cộng đồng, cơ cấu lại mô hình tổ chức sản xuất, hình thức cung ứng sản phẩm, làm mới các ngành nghề truyền thống bằng các giải pháp đổi mới sáng tạo.
Thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách Nhà nước về đổi mới, sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể thao bảo đảm hoạt động hiệu quả. Rà soát, giới hạn rõ các nội dung, loại hình dịch vụ mang tính công ích, thực hiện nhiệm vụ chính trị hoặc bảo tồn nghệ thuật truyền thống được Nhà nước bảo đảm ngân sách chi thường xuyên và hỗ trợ trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng; các dịch vụ có giá trị gia tăng cao được tạo điều kiện mở rộng các hình thức liên kết, hợp tác và quản trị, hạch toán tài chính như doanh nghiệp. Các hạng mục công trình do Nhà nước đầu tư có tính chất “làm mồi”, dẫn dắt phải đạt ngưỡng mới đủ sức thu hút đầu tư tư nhân tham gia. Chủ động thúc đẩy hình thức “đầu tư công, quản trị - vận hành - khai thác tư” đối với những dự án công nghiệp văn hóa, giải trí mà tư nhân có mức độ sẵn sàng tham gia cao.
Thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa - giải trí, từ sản phẩm mới, quy trình mới, mô hình kinh doanh mới và đến thị trường mới trên ngành hàng cũ. Đồng thời, xây dựng hệ sinh thái đồng bộ cho phát triển công nghiệp văn hoá, nhất là lập các phân hiệu, phân viện, chi nhánh các trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức tài chính, ngân hàng.
Xây dựng thương hiệu địa phương thông qua chiến lược truyền thông hiệu quả các sự kiện đặc sắc, các điểm nhấn nghệ thuật thị giác công cộng (kiến trúc công trình, điêu khắc công cộng, nghệ thuật địa hình công cộng, nghệ thuật graffiti (tranh nghệ thuật đường phố)…), sử dụng đồng bộ các công cụ chính sách, tài phán, chuyển đổi số, marketing địa phương, thúc đẩy các sáng kiến đa phương thông qua vai trò của UNESCO. Nâng cao vị thế, khẳng định vai trò một trung tâm đổi mới sáng tạo ngoài trời tiêu biểu, một trung tâm chuyên ngành về du lịch, công nghiệp văn hóa, giải trí gắn với các ngành kinh tế sáng tạo mới nổi của vùng và đất nước; tăng cường các hoạt động liên kết vùng, địa phương, trao đổi, hợp tác trong xây dựng, phát triển công nghiệp văn hóa.
6. Đẩy mạnh kết nối, hợp tác với các trung tâm công nghiệp văn hóa - giải trí có giá trị thương hiệu cao trong nước và quốc tế, từng bước hội nhập sâu rộng vào mạng lưới các thành phố sáng tạo sở hữu danh hiệu UNESCO.
Sớm lập đề án xây dựng thành phố Hoa Lư là thành phố sáng tạo, hội nhập sâu rộng vào mạng lưới các thành phố sáng tạo sở hữu danh hiệu UNESCO trong khu vực và trên thế giới, tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác, liên kết giữa các pháp nhân và thể nhân hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, giải trí.
Xúc tiến, thúc đẩy quan hệ đối ngoại - ngoại giao chuyên biệt giữa Ninh Bình với các đô thị di sản, các tập đoàn công nghiệp văn hoá lớn trong nước và trên thế giới, tích cực tranh thủ vai trò UNESCO và các tổ chức đa phương nhằm chủ động đề xuất sáng kiến toàn cầu, chia sẻ kinh nghiệm quản lý và công nghệ bảo tồn di sản, mở rộng thị trường du lịch, thu hút đầu tư phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa, giải trí tại tỉnh Ninh Bình.
Tạo môi trường, điều kiện thúc đẩy liên kết giữa địa phương với địa phương, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học, giữa các trung tâm khởi nghiệp sáng tạo với các doanh nghiệp… bảo đảm tối ưu hóa hiệu quả hợp tác, hội nhập quốc tế.
Đa dạng hóa các hình thức liên kết, hợp tác thông qua hội thảo, hội nghị, hội chợ, triển lãm, expo (triển lãm toàn cầu), liên hoan nghệ thuật, tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao, kinh tế số… mang tầm khu vực và quốc tế, thu hút các tổ chức và cá nhân có uy tín đồng chủ trì, tham gia, gia tăng sức hút đối với khách hàng.
Chủ động đề xuất và tham gia các sáng kiến đa phương về giá trị, tầm nhìn và hành động cho xây dựng đô thị di sản thiên niên kỷ, thúc đẩy công nghiệp văn hoá, tinh thần phụng dưỡng thiên nhiên dựa vào cộng đồng, thể chế khởi tạo khu vực kinh tế mới nổi… dựa trên chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ mới, đặc biệt là những sáng kiến từ thực tiễn bảo tồn và phát huy giá trị di sản của Ninh Bình.
7. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy trách nhiệm của chính quyền, vai trò chủ thể của người dân trong phát triển công nghiệp văn hoá.
Đổi mới phương thức xây dựng nghị quyết đối với các lĩnh vực kinh tế mới nổi theo hướng chú trọng ý tưởng đổi mới sáng tạo của tập thể lãnh đạo, lấy ý kiến của chuyên gia tư vấn, nhà đầu tư; xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện nghị quyết phải rõ sản phẩm, rõ dự án cụ thể. Đề cao tinh thần đổi mới sáng tạo trong khu vực công, nhất là tính tiên phong của cán bộ, đảng viên, bảo đảm tính đồng bộ với khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong khu vực tư. Xây dựng chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức về phát triển công nghiệp văn hoá, giải trí. Thường xuyên kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện từng dự án theo mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của chính quyền trong kiến tạo phát triển công nghiệp văn hóa, nhất là quy hoạch sử dụng đất đai, quy hoạch sản phẩm chủ lực, thúc đẩy cơ chế, chính sách đặc thù của khu vực thương mại tự do về du lịch, công nghiệp văn hóa, giải trí, kinh tế sáng tạo. Thúc đẩy và mở rộng hình thức đầu tư theo đối tác công tư (PPP) trong các ngành công nghiệp văn hóa. Thực hiện tốt việc quản trị địa phương các bộ chỉ số cải cách hành chính, giá trị thương hiệu địa phương, đổi mới sáng tạo cấp tỉnh và thu hút đoàn làm phim, làm cho Ninh Bình trở thành điểm đến thu hút đầu tư, “sân chơi” hấp dẫn cho giới công nghiệp văn hoá, giải trí và du khách.
Tăng cường vai trò chủ thể của người dân trong phát triển công nghiệp văn hóa, nòng cốt là đội ngũ doanh nhân, văn nghệ sĩ, cộng đồng quần cư di sản, nhất là quy tụ, tập hợp, thu hút những người nổi tiếng, có sức ảnh hưởng lớn trong công nghiệp văn hóa, giải trí bằng phương thức phù hợp. Phát huy sức mạnh toàn dân Ninh Bình tham gia phát triển công nghiệp văn hóa bằng lòng tự hào, bản lĩnh tự tin, tinh thần tự chủ, trách nhiệm tự giác. Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng, hội nghề nghiệp bảo đảm phát huy cao nhất sức mạnh của mọi người dân, mọi lực lượng xã hội cho phát triển công nghiệp văn hóa.
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện, xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết phù hợp với đặc điểm, tình hình của ngành, địa phương, đơn vị mình; thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, đánh giá việc thực hiện.
2. Đảng ủy các cơ quan Đảng tỉnh chỉ đạo:
- Đảng ủy HĐND tỉnh phối hợp với các cơ quan có liên quan chỉ đạo bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách; tăng cường nguồn lực cho việc phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.
- Các đảng bộ, chi bộ cơ quan Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, các tổ chức chính trị - xã hội, hội quần chúng, hội nghề nghiệp cấp tỉnh tăng cường công tác giám sát và phản biện xã hội; đẩy mạnh vận động đoàn viên, hội viên, nhân dân tích cực tham gia và giám sát việc thực hiện Nghị quyết.
3. Đảng ủy UBND tỉnh chỉ đạo xây dựng Đề án triển khai thực hiện Nghị quyết với lộ trình cụ thể, bảo đảm mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, yêu cầu đề ra và phù hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan chỉ đạo thường xuyên theo dõi, giám sát, thanh tra, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện Nghị quyết; định kỳ tham mưu tổ chức sơ kết, tổng kết báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh theo quy định.
4. Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì, phối với các đơn vị liên quan tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy hướng dẫn, nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến về Nghị quyết; chỉ đạo, định hướng các cơ quan báo chí của tỉnh tăng cường thông tin, tuyên truyền về phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và quá trình thực hiện Nghị quyết.
Nghị quyết này phổ biến đến Chi bộ.